Sau hai lần can thiệp mạch vành, người đàn ông 79 tuổi tiếp tục nhập viện vì những cơn đau ngực kéo dài. Kết quả kiểm tra ghi nhận tái hẹp tại vị trí đã đặt stent trước đó, đồng thời xuất hiện thêm một tổn thương mới, đặt ra nhiều thách thức trong lựa chọn phương án can thiệp.

Đau ngực kéo dài 6–7 tháng

Ông N.V.Đ (79 tuổi, ngụ tại An Giang) có tiền sử nhồi máu cơ tim từ năm 2010, được đặt stent mạch vành tại một bệnh viện ở TP.HCM. Đến năm 2017, ông Đ. tiếp tục bị nhồi máu cơ tim do tái hẹp stent cũ và được can thiệp đặt thêm stent.

Sau nhiều năm ổn định, khoảng 6 tháng trước khi nhập viện, ông Đ. bắt đầu xuất hiện những cơn đau ngực. Ban đầu, cơn đau xuất hiện từng lúc nên ông cố chịu đựng. Tuy nhiên, tình trạng ngày càng tăng, có ngày đau 4–5 lần.

Khi cơn đau trở nên dữ dội, gia đình đưa ông đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ. Qua thăm khám và kiểm tra, bác sĩ ghi nhận ông Đ. tái hẹp tại vị trí đã được can thiệp hai lần trước đó, đồng thời xuất hiện thêm một tổn thương mới ở động mạch liên thất trước.

Đây là lần tái hẹp thứ ba của ông Đ. Theo BS Phạm Công Định – Khoa Nội tổng hợp, đứng trước tình huống này cần giải quyết đồng thời ba vấn đề: nguyên nhân vì sao ông Đ. tái hẹp nhiều lần, hướng xử trí lần này và làm thế nào để hạn chế nguy cơ tái hẹp về sau.

Không đặt thêm stent tại vị trí cũ

Theo bác sĩ Công Định, tái hẹp có thể liên quan đến ba nhóm nguyên nhân: cơ địa người bệnh, đặc điểm tổn thương mạch vành trước đó và kỹ thuật can thiệp. Với trường hợp này, hai lần tái hẹp xảy ra cách nhau nhiều năm, lần đầu sau 7 năm và lần tiếp theo gần 10 năm, nên bác sĩ không nghĩ nhiều đến nguyên nhân do kỹ thuật đặt stent trước đó.

Để xác định cơ chế tái hẹp, ê-kíp dựa trên CT mạch vành kết hợp siêu âm trong lòng mạch. Kết quả cho thấy các stent được đặt trước đó vẫn nở tốt và áp sát thành mạch. Trong khi đó, bệnh nhân xuất hiện một tổn thương mới ở vị trí khác, được đánh giá liên quan đến cơ địa và các yếu tố nguy cơ như tuổi, tăng huyết áp.

Điểm khó của ca bệnh nằm ở việc vị trí tái hẹp cũ đã có hai lớp stent. Theo bác sĩ Định, nếu tiếp tục đặt thêm stent sẽ làm tăng nguy cơ tái hẹp về sau. Vì vậy, ê-kíp lựa chọn bóng phủ thuốc cho vị trí tái hẹp cũ, còn tổn thương mới được đặt một stent mới.

Giải pháp này giúp xử lý tình trạng tái hẹp hiệu quả mà không làm gia tăng số lượng lớp stent trong lòng mạch, từ đó hạn chế tối đa nguy cơ tái hẹp hay biến cố huyết khối cho bệnh nhân ở những lần sau. Bác sĩ Định cho biết.

Đồng thời, các bác sĩ cũng thực hiện siêu âm trong lòng mạch vành trước và sau khi đặt stent nhằm tối ưu kết quả can thiệp.

Người bệnh cần chủ động kiểm soát yếu tố nguy cơ

Sau can thiệp, sức khỏe ông Đ. cải thiện rõ rệt và không còn đau ngực. Ông Đ. vui mừng chia sẻ: Can thiệp xong 1 ngày là tôi thấy khỏe luôn á. Thành thật cảm ơn các bác sĩ ở đây. Bởi vậy tôi và anh em họ hàng ai cũng đồng tình ủng hộ tôi đi S.I.S điều trị hết á!

Tuy nhiên, theo bác sĩ Định, ông Đ. có nhiều yếu tố nguy cơ, can thiệp thành công không đồng nghĩa nguy cơ tái hẹp được loại bỏ hoàn toàn.

Do đó, ông Đ. sau đặt stent cần tái khám thường xuyên, dùng thuốc đúng theo toa và kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ như thuốc lá, mỡ máu và huyết áp. Đặc biệt, nếu xuất hiện trở lại các triệu chứng bất thường như đau ngực, khó thở, hụt hơi, cần báo ngay cho bác sĩ để được kiểm tra và phát hiện sớm tình trạng tái hẹp stent.

Ca bệnh cũng cho thấy, ở những người đã nhiều lần can thiệp mạch vành, việc theo dõi lâu dài và kiểm soát yếu tố nguy cơ đóng vai trò quan trọng. Phát hiện sớm bất thường và can thiệp kịp thời có thể giúp quá trình điều trị đạt hiệu quả hơn.

Huỳnh Anh, ảnh: Đức Thịnh, Tuấn Anh

Tin tức gần đây