Ở bệnh nhân đột quỵ do tắc mạch máu lớn trên nền xơ vữa động mạch nội sọ, lấy huyết khối cơ học có thể chưa đủ để duy trì dòng máu lên não. Việc nhận diện tổn thương và cân nhắc nong bóng hoặc đặt stent đúng chỉ định có vai trò quan trọng trong chiến lược tái thông.
Đây là nội dung được BS.CKI Dương Hoàng Linh – Đơn vị DSA, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ chia sẻ tại Đại hội lần thứ 18 của Hội Can thiệp Thần kinh Thế giới (WFITN 2026), diễn ra tại Busan, Hàn Quốc, chiều 12/10/2026.

Khi lấy huyết khối chưa giải quyết được tổn thương nền
Ở bệnh nhân đột quỵ do tắc mạch máu lớn liên quan đến xơ vữa động mạch nội sọ (ICAD-LVO), lòng mạch vốn đã hẹp do mảng xơ vữa. Vì vậy, dù cục máu đông được lấy ra, vị trí tổn thương vẫn có thể hẹp nặng hoặc tái tắc, cản trở dòng máu lên não.
Theo BS.CKI Dương Hoàng Linh, khoảng 35–51% trường hợp đột quỵ tắc mạch máu lớn liên quan đến xơ vữa động mạch nội sọ có thể cần can thiệp bổ sung như nong bóng hoặc đặt stent. Tại Đơn vị DSA, Bệnh viện S.I.S Cần Thơ, tỷ lệ bệnh nhân cần những kỹ thuật này được ghi nhận khoảng 30–40% tổng số ca can thiệp cấp cứu.
Một nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm công bố trên Frontiers in Neurology ngày 14/1/2026, thực hiện trên 161 bệnh nhân, ghi nhận nhóm được nong bóng hoặc đặt stent ngay từ đầu có tỷ lệ tái thông thành công sau chiến lược can thiệp đầu tiên là 73,4%, so với 37,3% ở nhóm lấy huyết khối cơ học theo phương pháp truyền thống. Tỷ lệ độc lập chức năng tốt sau 90 ngày cũng cao hơn ở nhóm can thiệp ban đầu (63,8% so với 47,8%).

Tuy nhiên, đây là nghiên cứu hồi cứu, chưa đủ để khẳng định chiến lược nong bóng hoặc đặt stent ngay từ đầu phù hợp với mọi bệnh nhân. Quyết định can thiệp cần được cá thể hóa dựa trên đặc điểm tổn thương, tình trạng lâm sàng và cân nhắc lợi ích – nguy cơ.
DSA giúp nhận diện tổn thương, lựa chọn chiến lược phù hợp
Chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA) giúp bác sĩ xác định vị trí tắc, đánh giá mức độ hẹp và kiểm tra dòng máu sau can thiệp. Đây là cơ sở quan trọng để nhận diện những trường hợp có tổn thương xơ vữa nền, từ đó cân nhắc phương pháp tái thông phù hợp.
Tại hội nghị, BS.CKI Dương Hoàng Linh dẫn chứng trường hợp bệnh nhân nam 75 tuổi nhập viện khoảng 30 giờ sau khởi phát triệu chứng, trong tình trạng lơ mơ, liệt tứ chi, nuốt khó và nói khó. Kết quả DSA ghi nhận tắc hoàn toàn động mạch đốt sống. Ê-kíp quyết định nong bóng động mạch đốt sống – thân nền, giúp tái thông lòng mạch và khôi phục dòng máu đến vùng thân não.

Một trường hợp khác là bệnh nhân nam 70 tuổi nhập viện ở giờ thứ sáu sau khởi phát đột quỵ, với điểm NIHSS 10. Ê-kíp tiến hành lấy huyết khối kết hợp nong bóng khẩn cấp; theo báo cáo ca bệnh, hệ thống mạch máu não phía sau được ghi nhận mở thông hoàn toàn sau can thiệp.
Hai trường hợp cho thấy điều trị đột quỵ không phải lúc nào cũng chỉ cần một kỹ thuật đơn lẻ. Tùy nguyên nhân gây tắc và đặc điểm tổn thương, bác sĩ có thể cần phối hợp nhiều phương pháp nhằm đạt hiệu quả tái thông. Tuy nhiên, chiến lược này không áp dụng đồng loạt cho tất cả bệnh nhân.
Cá thể hóa điều trị để hạn chế nguy cơ tái tắc
Xơ vữa động mạch nội sọ có thể được gợi ý qua các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và một số đặc điểm trên hình ảnh học. Trong quá trình can thiệp, tình trạng hẹp tồn lưu nghiêm trọng sau lấy huyết khối cũng có thể gợi ý tổn thương xơ vữa nền.

Việc lựa chọn lấy huyết khối đơn thuần, kết hợp nong bóng hay đặt stent cần dựa trên đánh giá tổng thể của bác sĩ về vị trí, mức độ hẹp, khả năng duy trì dòng máu và nguy cơ của người bệnh.
Thông điệp từ báo cáo tại WFITN 2026 là không chỉ lấy được cục máu đông, mà còn phải nhận diện đúng nguyên nhân gây tắc và đánh giá khả năng duy trì dòng máu sau can thiệp. Sự phối hợp giữa đánh giá lâm sàng, hình ảnh học và lựa chọn kỹ thuật phù hợp góp phần nâng cao chất lượng điều trị đột quỵ, hướng đến cải thiện cơ hội phục hồi cho người bệnh.
Kim Cương, ảnh: Hưng Nguyên

















Đặt lịch hẹn
HOTLINE: 18001115